#LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Tài chính - Marketing đã đưa môn học Mô phỏng ngẫu nhiên vào trương trình giảng dạy. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - Thầy Trần Mạnh Tường đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho em trong suốt thời gian học tập vừa qua. Trong thời gian tham gia lớp học Mô phỏng ngẫu nhiên của thầy, em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, tinh thần học tập hiệu quả, nghiêm túc. Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang để em có thể vững bước sau này. Bộ môn Mô phỏng ngẫu nhiên là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao. Đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên. Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ. Mặc dù em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong thầy xem xét và góp ý để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Ở thị trường Việt Nam, ngân hàng chính là ngành lớn nhất với mức triển vọng tăng trưởng đáng mong đợi. Trong số các nhóm cổ phiếu niêm yết và giao dịch tập trung trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhóm cổ phiếu ngân hàng tuy chỉ hoạt động với số lượng cổ phiếu khiêm tốn song lại chiếm tỷ trọng vốn hóa rất lớn trên thị trường. Nhóm cổ phiếu ngân hàng cũng được đánh giá là nhóm ngành cơ bản, quan trọng, gắn liền với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Mục đích của các doanh nghiệp khi quyết định phát hành và bán cổ phiếu ra thị trường là để huy động vốn. Người mua cổ phiếu gọi là các cổ đông. Các cổ đông này sẽ được nhận một phần lợi nhuận do công ty tạo ra, phần lợi nhuận này được gọi là cổ tức. Một số công ty có thể đưa ra một khoản tỷ lệ cổ tức lớn nhằm thu hút các nhà đầu tư.Giá trị thị trường của cổ phiếu có thể tăng hay giảm chủ yếu phụ thuộc vào lượng cung – cầu của các nhà đầu tư là nhiều hay ít. Các quyết định liên quan đến cổ phiếu của nhà đầu tư có thể ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp, đặc biệt là khi sự dao động lên xuống của giá cổ phiếu có liên quan đến lợi nhuận hoặc các yếu tố rủi ro. Giá trị của cổ phiếu được thể hiện liên tục trên thị trường tài chính phản ảnh tài sản hiện có của doanh nghiệp, được đánh giá dựa trên cơ sở thực trạng doanh nghiệp, trạng thái kinh tế và mức độ đầu tư của doanh nghiệp. Ngoài ra, cổ phiếu còn là phong vũ biếu của nền kinh tế thị trường, là công cụ giúp các nhà đầu tư có cái nhìn cụ thể về thực trạng của nền kinh tế đang diễn ra và dụ đoán tương lai của nền kinh tế đồng thời cũng có thể dự đoán và đề ra các kế hoạch phát triển doanh nghiệp, nhờ đó có phương pháp quản lý doanh nghiệp thích hợp. Nền kinh tế Việt Nam được xem là nền kinh tế dựa vào ngân hàng khi thị trường vốn chưa phát triển và nguồn cung cấp vốn cho các doanh nghiệp chủ yếu đến từ các ngân hàng. Với vai trò thống trị của tín dụng ngân hàng, những biến động trong ngành này có thể ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp và nền kinh tế. Khi ngành ngân hàng gặp khó khăn, các doanh nghiệp sẽ khó tiếp cận được nguồn vốn, điều này có thể dẫn đến suy giảm sản xuất kinh doanh và tăng thất nghiệp. Ngoài ra, những biến động trong ngành ngân hàng cũng có thể làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư và ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán. Ngân hàng hoạt động dựa trên cơ sở mức độ tín nhiệm. Vốn khả dụng của ngân hàng tỷ lệ thuận với mức độ uy tín của ngân hàng, có nghĩa là ngân hàng có vốn khả dụng càng lớn thì mức độ tín nhiệm của ngân hàng càng cao. Vốn cũng đại diện cho năng lực cạnh tranh của mỗi ngân hàng. Vì vậy ngân hàng cần có một nguồn vốn lớn để phát triển kinh doanh; ở hầu hết các ngân hàng, vốn tự có là chưa đủ để ngân hàng phát triển và gia tăng năng lực cạnh tranh. Có nhiều cách để ngân hàng có thể huy động vốn như đi vay từ các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư và từ việc cho khách hàng vay tiền (Ngân hàng nhận tiền gửi từ khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, sau đó cho vay lại cho khách hàng khác với lãi suất cao hơn. Chênh lệch lãi suất là nguồn thu chính của ngân hàng). Việc phát hành cổ phiếu cũng là một trong những cách mà các ngân hàng huy động vốn giúp cho ngân hàng giảm thiểu các chi phí tài chính và tăng khả năng cạnh tranh. Khi một ngân hàng phát hành cổ phiếu có nghĩa là ngân hàng đó đang bán một phần quyền sở hữu của mình cho các nhà đầu tư. Số tiền thu được từ việc phát hành cổ phiếu sẽ được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng như cho vay, đầu tư và mở rộng kinh doanh. Ngoài ra việc phát hành cổ phiếu còn giúp tăng vốn chủ sở hữu của ngân hàng, từ đó tăng khả năng chống chịu đối với rủi ro và đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Vì vậy, với mục đích muốn hiểu rõ hơn về tình hình phát triển của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và để làm rõ sự ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô đến giá cổ phiếu, tôi tiến hành nghiên cứu, mô phỏng sự biến động giá cổ phiếu của STB liên quan đến các nhân tố kinh tế vĩ mô.

2.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:

Phạm vi nghiên cứu: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong giai đoạn từ năm 2018 đến 2022. Đối tượng nghiên cứu: các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

3. Phương pháp nghiên cứu

Bộ dữ liệu dược sử dụng để phân tích là dữ liệu được thu thập từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Riêng các nhân tố vĩ mô được lấy từ số liệu thống kê của Vietstock và Investing được niêm yết và đăng ký giao dịch cổ phiếu trong giai đoạn 2018 đến 2022 và sử dụng phần mềm R để hỗ trợ phân tích dữ liệu. Trước tiên sẽ phân tích tương quan các biến để nhận thấy tác động qua lại của các biến độc lập, các biến phụ thuộc trong mô hình. Tiếp theo phân tích hồi quy mô hình và kiểm định mô hình được đề xuất để từ đó đưa ra kết luận và gợi ý chính sách.

4. Ý nghĩa của đề tài:

Bài nghiên cứu góp phần bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến giá cổ phiếu của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Ngoài ra, kết luận giúp cho các nhà quản trị ngân hàng, cổ đông, nhà đầu tư đánh giá, có cái nhìn chiến lược hơn khi phân tích, dự báo giá cổ phiếu STB, từ đó đưa ra những chính sách để phát huy yếu tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ các yêu tố tiêu cực và đưa ra những quyết định đúng đắn phát triển ngân hàng ngày càng một lớn mạnh và tìm kiếm được lợi nhuận. Đề tài này cũng có thể là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong tương lai về các yếu tố tác động đến giá cổ phiếu nói chung và giá cổ phiếu ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín nói riêng.

5. Kết cấu đề tài:

Chương 1: Giới thiệu sơ lược về Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín(STB) Chương 2: Cơ sở lý thuyết và dữ liệu nghiên cứu. Chương 3: Mô hình đề xuất nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận.

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU SỢ LƯỢC VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN.

1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Sacombank là tên giao dịch của Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tên tiếng Anh là Sai Gon Thuong Tin Commercial Joint Stock Bank. Đang là một trong những ngân hàng cổ phần thương mại lớn của Việt Nam, có lịch sử thành lập từ những năm 1991. Vào năm 2012, được biết Sacombank có tổng số vốn vào khoảng 14.176 tỷ đồng và là một trong số những ngân hàng thương mại có số vốn cũng như cơ sở chi nhánh hùng hậu nhất tại Việt Nam thời điểm lúc bấy giờ. Trong quãng thời gian những năm đầu mới được thành lập, Sacombank thực chất vẫn chỉ hoạt động như một tổ chức tín dụng ở quy mô nhỏ với số vốn điều lệ vỏn vẹn 3 tỷ đồng. Đến giai đoạn từ năm 1995-1998, với ý tưởng đem đến bước ngoặt là cho phát hành cổ phiếu đại chúng (Sacombank đã vươn mình và khẳng bản thân là một trong số những doanh nghiệp đầu tiên cho phát hành cổ phiếu đại chúng tại Việt Nam), Sacombank lúc này đã có thể tự nâng vốn điều lệ từ 23 tỷ chạm ngưỡng 71 tỷ đồng, cao hơn gấp nhiều lần so với quãng thời gian mới hoạt động. Đây có thể coi là những thành công bước đầu sau những quyết định đúng đắn của ban lãnh đạo công ty. Việc Sacombank mở bán cổ phiếu đại chúng đã giúp công ty trở thành một kênh kêu gọi vốn với quãng thời gian kéo dài chính cho Sacombank trong khoảng thời gian về sau. Đặc biệt chính là trong giai đoạn từ những năm 2000-2006, khi đó thị trường chứng khoán ở Việt Nam đang có những bước chuyển mình vô cùng mạnh mẽ, đây cũng chính là thời kỳ mà Sacombank phát triển bùng nổ và phát triển về vốn cũng như các cơ sở, chi nhánh.

1.2 Tầm nhìn – sứ mệnh và giá trị cốt lõi của ngân hàng

1.2.1 Tầm nhìn

Trở thành Ngân hàng bán lẻ hiện đại - đa năng hàng đầu Việt Nam.

1.2.2 Sứ mệnh

Tối ưu giải pháp tài chính trọn gói, hiện đại và đa tiện ích cho khách hàng; Tối đa hóa giá trị gia tăng cho đối tác, nhà đầu tư và cổ đông; Tạo ra giá trị nghề nghiệp và sự thịnh vượng cho CBNV; Đồng hành cùng sự phát triển chung của cộng đồng xã hội.

1.2.3 Giá trị cốt lõi

Tiên phong mở đường và vượt qua những thách thức để tiếp nối những thành công; Đổi mới và năng động để phát triển vững bền; Tạo dựng sự khác biệt bằng đột phá sáng tạo trong kinh doanh và quản trị điều hành; Cam kết chất lượng là nguyên tắc ứng xử của mỗi thành viên trong phục vụ khách hàng và quan hệ đối tác; Trách nhiệm với cộng đồng và xã hội.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 cơ sở lý thuyết

2.1.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là nơi thực hiện việc mua, bán chứng khoán. Thị trường chứng khoán được chia làm hai bộ phận dựa trên cơ sở mua bán chứng khoán lần đầu hay mua bán lại là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường chứng khoán sơ cấp là nơi chứng khoán được người phát hành bán lần đầu tiên cho các tổ chức, cá nhân. Thị trường chứng khoán thứ cấp là nơi diễn ra việc mua, bán lại chứng khoán từ các cá nhân hay tổ chức khác không phải là nhà phát hành. Thị trường chứng khoán thứ cấp có hình thức tổ chức là Trung tâm giao dịch chứng khoán hay nói cách khác là sở giao dịch chứng khoán. Trong thời điểm nền kinh tế thị trường hiện đại, thị trường chứng khoán đã trở thành một trong những nơi phổ biến cho việc đầu tư tài chính. Đến thời điểm hiện tại, thị trường chứng khoán Đông Nam Á có sự “sáng sủa” hơn các thị trường khác trên thế giới do nhiều nền kinh tế trong khu vực này đã mở cửa trở lại sau đại dịch Covid-19, chào đón một lượng lớn khách du lịch quay trở lại. Cùng với nhu cầu tiêu thụ hàng nội địa bùng nổ đang giúp bảo vệ các nền kinh tế khu vực khỏi sự tăng trưởng chậm lại của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán cũng tồn tại một số rủi ro thường gặp như rủi ro thanh khoản, rủi ro biến động thị trường, rủi ro lãi suất và lạm phát. Ngày nay, có rất nhiều tính toán phát triển trong đầu tư để nhà đầu tư có thể sớm tìm ra giá trị của rủi ro làm giảm tổn thất tiềm ẩn. Vì khủng hoảng kinh tế đang diễn ra, quản lý rủi ro ngày càng hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và giá trị rủi ro (Value at risk) đang được các nhà đầu tư sử dụng rộng rãi. Trong việc quản lý rủi ro về tài chính của các ngân hàng, giá trị rủi ro (VaR) là một trong các giá trị quan trọng nhất trong các biện pháp quản lý rủi ro.

2.1.2. Những điểm nổi bật liên quan đến hoạt động thị trường ngân hàng nói chung và NHTMCP nói riêng.

Hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần ngày một phát triển nhanh và vững chắc, hiệu quả, mở rộng thị phần, nâng cao sức mạnh cạnh tranh trong xu hướng hội nhập. Mạng lưới hoạt động của các ngân hàng thương mại được cơ cấu lại và tiếp tục phát triển nhanh. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng tiếp tục đạt được nhiều kết quả nổi bật quan trọng, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sự cạnh tranh của các ngân hàng trong các dự án chuyển đổi số và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ. Trong bối cảnh hội nhập và sự phát triển của công nghệ, áp lực cạnh tranh của ngành Ngân hàng ngày càng khốc liệt. Không chỉ là cuộc cạnh tranh của ngân hàng với nhau, giữa các ngân hàng với các công ty tài chính mà còn là giữa ngân hàng với fintech và bigtech, nhất là trong lĩnh vực dịch vụ thanh toán và cho vay nhỏ lẻ, tiêu dùng. Ra đời chính sách mới cùng với sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Ngân hàng nhà nước (NHNN). Cùng với sự phát triển của công nghệ, nhiều mô hình kinh doanh mới trong lĩnh vực tài chính ra đời như mô hình ngân hàng số 100%, tiền kỹ thuật số, cho vay ngang hàng… và đang cạnh tranh trực tiếp với các ngân hàng truyền thống. Rủi ro về an ninh mạng, thông tin dữ liệu an toàn. Ngoài ra, ngân hàng cũng gặp phải những rủi ro về đạo đức liên quan đến khách hàng, và nhân viên ngân hàng.

2.1.3 Thông tin chung về cổ phiếu STB

Năm 1996: Phát hành cổ phiếu lần đầu tiên với mệnh giá 200.000đ, tăng vốn điều lệ lên 71 tỷ đồng và có gần 9.000 cổ đông góp vốn. Năm 2020: Phát triển nguồn nhân lực với giải pháp SAP SuccessFactors, thanh toán không tiếp xúc bằng NFC, triển khai công nghệ Tap to phone. Năm 2022: Phát triển 3D Secure trong thanh toán trực tuyến giúp gia tăng bảo mật.

2.2 Dữ liệu nghiên cứu

2.2.1 Bộ dữ liệu

library(readxl)
## Warning: package 'readxl' was built under R version 4.3.1
BDL <- read_excel("C:/Users/PC/Downloads/TDTD.xlsx")
View(BDL)
library(DT)
## Warning: package 'DT' was built under R version 4.3.1
BDL %>% DT::datatable(BDL)

2.2.2 Mô tả các biến trong bộ dữ liệu

2.2.2.1 Giá cổ phiếu STB

Cổ phiếu STB là dạng cổ phiếu thuộc ngành tài chính ngân hàng, cụ thể là thuộc ngân hàng Sacombank một trong top 3 ngân hàng hàng đầu Việt Nam. Ngân hàng chuyên cung cấp các sản phẩm và dịch vụ đa dạng để đáp ứng nhu cầu khách hàng.

2.2.2.2 Tỷ giá hối đoái

Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ trao đổi từ tiền của quốc gia này sang đồng tiền của quốc gia khác. Tỷ giá hối đoái là một biến số quan trọng, tác động đến dự cân bằng của cán cân thương mại và cán cân thanh toán, do đó tác động đến sản lượng, việc làm cũng như sự cân bằng của nền kinh tế nói chung. Biến động tỷ giá hối đoái có tác động tới thị trường chứng khoán khi có các nguồn vốn nước ngoài được đầu tư vào thị trường chứng khoán. Biến động mạnh của tỷ giá hối đoái sẽ khiến các nhà đầu tư nước ngoài rút khỏi thị trường sẽ làm giá chứng khoán giảm. . Sự tăng lên về giá của những tài sản trong nước làm cho những nhà đầu tư gia tăng nhu cầu của họ về tiền tệ, điều này lại làm cho lãi suất gia tăng. Một hoạt động khác cũng làm cho mối quan hệ giữa giá chứng khoán và tỷ giá là ngược chiều là khi có sự gia tăng đầu tư trong khối đầu tư nước ngoài vào tài sản trong nước cũng làm gia tăng giá chứng khoán. Điều này cũng là nguyên nhân của sự đánh giá cao đồng tiền trong nước.Khi tỷ giá hối đoái biến động, có thể ảnh hưởng đến giá trị của tài sản và nợ của các ngân hàng. Điều này có thể dẫn đến tăng hoặc giảm lợi nhuận của các ngân hàng. Ngoài ra còn có thể ảnh hưởng đến chi phí vốn và chi phí vay, hoạt động cho vay và hoạt động đầu tư dẫn đến việc lợi nhuận của ngân hàng giảm.

2.2.2.3 Giá vàng

Vàng sở hữu các tính chất tương tự như chứng khoán ở chỗ nó là một sự lưu trữ giá trị, phương tiện trao đổi và là một đơn vị thanh toán (Goodman, 1956; Solt and Swanson, 1981). Vàng đóng vai trò là một kim loại quý với các tính chất giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư một cách đáng kể (Ciner, 2001).Khác với các tài sản khác, vàng là tài sản có tính thanh khoản cao. Sự biến động của giá vàng luôn có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến nền kinh tế, cụ thể là thị trường chứng khoán. Cơ sở để giải thích cho mối tương quan này là khi giá vàng tăng, nhà đầu tư sẽ rút vốn để đầu tư vào thị trường vàng thay vì đầu tư vào cổ phiếu do tỷ suất sinh lợi trên thị trường vàng cao hơn. Do đó, cầu về cổ phiếu sẽ giảm, làm giảm giá của cổ phiếu. Theo Truong (2014) sự biến động của giá vàng có tương quan nghịch với tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu. Một cách định lượng, khi giá vàng tăng hoặc giảm 1% thì tỷ suất sinh lời của các cổ phiếu sẽ giảm hoặc tăng 0,72%. Akbar và cộng sự (2019), cũng chứng minh giá vàng và giá chứng khoán có tác động qua lại lẫn nhau và đó là tác động ngược chiều bằng mô hình VAR. Trương Đông Lộc & Võ Thị Hồng Đoan (2009) nghiên cứu sự thay đổi giá vàng trong nước có tương quan thuận với giá cổ phiếu Việt Nam nhờ kiểm định nhân quả.

2.2.2.4 Giá dầu thô

Dầu là một trong những nguyên liệu đầu vào, nguồn năng lượng quan trọng của hầu hết các ngành công nghiệp trong nền kinh tế và có tác động trực tiếp đến thị trường chứng khoán trên toàn thế giới nói chung và các quốc gia ASEAN nói riêng. Giá dầu tăng ảnh hưởng đến các biến số kinh tế vĩ mô như chi phí sản xuất, quyết định của nhà đầu tư, lợi nhuận của khối doanh nghiệp, các biến số kinh tế vĩ mô như lạm phát, thu nhập quốc dân, …Huang và cộng sự (1996) cho rằng thay đổi giá dầu có tác động đến giá chứng khoán là do ảnh hưởng của biến động giá dầu được giải thích chủ yếu bằng những lập luận dựa trên mô hình định giá theo phương pháp chiết khấu dòng tiền. Vì dầu là nguồn tài nguyên chính của nền kinh tế nên giá dầu cao sẽ làm mức giá chung cao, lãi suất thực tăng gây tác động đến mức lợi nhuận nhà đầu tư kỳ vọng đầu tư vào các công ty tăng tương ứng, khiến giá chứng khoán giảm. Thông qua các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã cho thấy mối quan hệ mối quan hệ giữa giá dầu và giá chứng khoán có thể tích cực hoặc tiêu cực. Al-Mudhaf và Goodwin (1993) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên chứng minh ảnh hưởng của giá dầu đến giá trị công ty bằng thực nghiệm theo hướng lý giải này. Kết quả nghiên cứu trên 29 công ty thuộc ngành công nghiệp dầu khí niêm yết trên thị trường chứng khoán New York cho thấy tác động tích cực của việc tăng giá dầu đến giá trị các công ty này trong những năm 1970. Một số nghiên cứu cho các nước nhập khẩu dầu cũng cho thấy ảnh hưởng tiêu cực của tăng giá dầu đến thị trường, chẳng hạn: O’Neil và cộng sự (2008) cho thấy giá dầu tăng làm TTCK các nước Anh, Pháp đều đi xuống; Nandha và Faff (2008) xem xét chỉ số vốn toàn cầu (Global Equity Indices) và cho thấy tăng giá dầu làm giảm giá tất cả cổ phiếu nhóm ngành công nghiệp, trừ các ngành khai khoán và dầu khí; Papapetrou (2001) cho thấy cú sốc giá dầu tăng làm giá chứng khoán tại Hy Lạp đi xuống do những ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng và việc làm.

2.2.2.5 Chỉ số giá tiêu dùng

Chỉ số giá tiêu dùng là sự tăng mức giá chung một cách liên tục của hàng hóa, dịch vụ theo thời gian và sự mất giá trị của một loại tiền tệ nào đó, đồng thời phản ảnh sự suy giảm sức mua trên một đơn vị tiền tệ. Lạm phát cao luôn là dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang nóng, báo hiệu sự tăng trưởng kém bền vững vì làm tăng chi phí đi vay, tăng chi phí đầu vào (nguyên vật liệu, lao động) và giảm chất lượng cuộc sống của người dân do mọi chi phí tăng, đồng thời ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty cũng gián tiếp gây áp lực làm giảm giá cổ phiếu. Khi CPI tăng, ngân hàng trung ương có thể tăng lãi suất để cố gắng kiểm soát lạm phát. Điều này có thể làm giảm lợi nhuận của ngân hàng vì họ sẽ phải trả lãi suất cao hơn cho các khoản vay. Khi này chi phí sản xuất của ngân hàng cũng sẽ tăng lên. Điều này có thể làm giảm lợi nhuận của ngân hàng vì họ sẽ phải bán các sản phẩm và dịch vụ của mình với giá cao hơn.Khi CPI tăng, người tiêu dùng có thể có ít tiền hơn để chi tiêu cho các khoản vay. Điều này có thể làm giảm nhu cầu tín dụng, có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.

CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH ĐỀ XUẤT NGHIÊN CỨU

Với mục đích nghiên cứu các nhân tố kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng như thế nào đến sự biến động của giá cổ phiếu đồng thời thực hiện mô phỏng giá cổ phiếu dựa trên các nhân tố này nên tôi sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến cho giá cổ phiếu TPB. Mô hình hồi quy tổng quát của giá cổ phiếu STB có dạng: STB=β0+β1EXR+β2GOLD+β3WTI+β4CPI Trong đó: EXR, GOLD, WTI,CPI là các biến độc lập; STB là biến phụ thuộc và là đối tượng cần mô phỏng.

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.

4.1 Thống kê mô tả

summary(BDL)
##       Data                          STB             EXR             GOLD     
##  Min.   :2018-01-01 00:00:00   Min.   : 7300   Min.   :22645   Min.   :1202  
##  1st Qu.:2019-01-03 18:00:00   1st Qu.:11425   1st Qu.:22961   1st Qu.:1333  
##  Median :2020-01-06 12:00:00   Median :13825   Median :23183   Median :1709  
##  Mean   :2020-01-06 21:36:00   Mean   :17448   Mean   :23176   Mean   :1616  
##  3rd Qu.:2021-01-09 06:00:00   3rd Qu.:22850   3rd Qu.:23281   3rd Qu.:1817  
##  Max.   :2022-01-12 00:00:00   Max.   :35550   Max.   :24840   Max.   :1986  
##       WTI              CPI         
##  Min.   : 18.84   Min.   :-1.5400  
##  1st Qu.: 53.17   1st Qu.:-0.0150  
##  Median : 63.74   Median : 0.1850  
##  Mean   : 64.43   Mean   : 0.2425  
##  3rd Qu.: 74.37   3rd Qu.: 0.5200  
##  Max.   :114.67   Max.   : 1.5200

Từ kết quả thống kê mô tả cho thấy:

Biến STB có giá trị nhỏ nhất là 7300; giá trị lớn nhất là 35550; giá trị trung bình là 17448; giá trị tứ phân vị thứ nhất là 11425; giá trị trung vị là 13825; giá trị phân vị thứ ba là 22850.

Biến EXR có giá trị nhỏ nhất là 22645; giá trị lớn nhất là 24840; giá trị trung bình là 23176; giá trị tứ phân vị thứ nhất là 22961; giá trị trung vị là 23183; giá trị phân vị thứ ba là 23281.

Biến GOLD có giá trị nhỏ nhất là 1202; giá trị lớn nhất là 1986; giá trị trung bình là 1616; giá trị tứ phân vị thứ nhất là 1333; giá trị trung vị là 1709; giá trị phân vị thứ ba là 1817.

Biến WTI có giá trị nhỏ nhất là 18.84; giá trị lớn nhất là 114.67; giá trị trung bình là 64.43; giá trị tứ phân vị thứ nhất là 53.17; giá trị trung vị là 63.74; giá trị phân vị thứ ba là 74.37.

Biến CPI có giá trị nhỏ nhất là -1.5400; giá trị lớn nhất là 1.5200; giá trị trung bình là 0.2425; giá trị tứ phân vị thứ nhất là -0.0150; giá trị trung vị là 0.1850; giá trị phân vị thứ ba là 0.5200.

4.2 Xác định phân phối các biến ngẫu nhiên

4.2.1Biến STB

shapiro.test(BDL$STB)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  BDL$STB
## W = 0.8672, p-value = 1.019e-05
ks.test(BDL$STB, y = "plnorm")
## Warning in ks.test.default(BDL$STB, y = "plnorm"): ties should not be present
## for the Kolmogorov-Smirnov test
## 
##  Asymptotic one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$STB
## D = 1, p-value < 2.2e-16
## alternative hypothesis: two-sided
ks.test(BDL$STB, y = "pexp")
## Warning in ks.test.default(BDL$STB, y = "pexp"): ties should not be present for
## the Kolmogorov-Smirnov test
## 
##  Asymptotic one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$STB
## D = 1, p-value < 2.2e-16
## alternative hypothesis: two-sided
set.seed(1)
STB1 <- rnorm(1000, mean(BDL$STB), sd(BDL$STB))
library(nortest)
shapiro.test(STB1)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  STB1
## W = 0.99876, p-value = 0.7256
hist(STB1, col = "gray")

qqnorm(STB1, col = "gray")

### 4.2.2Biến EXR

shapiro.test(BDL$EXR)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  BDL$EXR
## W = 0.78754, p-value = 6.693e-08
ks.test(BDL$EXR, y = "plnorm")
## Warning in ks.test.default(BDL$EXR, y = "plnorm"): ties should not be present
## for the Kolmogorov-Smirnov test
## 
##  Asymptotic one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$EXR
## D = 1, p-value < 2.2e-16
## alternative hypothesis: two-sided
ks.test(BDL$EXR, y = "pexp")
## Warning in ks.test.default(BDL$EXR, y = "pexp"): ties should not be present for
## the Kolmogorov-Smirnov test
## 
##  Asymptotic one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$EXR
## D = 1, p-value < 2.2e-16
## alternative hypothesis: two-sided
set.seed(1)
EXR1 <- rnorm(1000, mean(BDL$EXR), sd(BDL$EXR))
library(nortest)
shapiro.test(EXR1)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  EXR1
## W = 0.99876, p-value = 0.7256
hist(EXR1, col = "gray")

qqnorm(EXR1, col = "gray")

### 4.2.3Biến GOLD

shapiro.test(BDL$GOLD)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  BDL$GOLD
## W = 0.90369, p-value = 0.0001797
ks.test(BDL$GOLD, y = "plnorm")
## 
##  Exact one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$GOLD
## D = 1, p-value = 6.661e-16
## alternative hypothesis: two-sided
ks.test(BDL$GOLD, y = "pexp")
## 
##  Exact one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$GOLD
## D = 1, p-value = 6.661e-16
## alternative hypothesis: two-sided
set.seed(1)
GOLD1 <- rnorm(1000, mean(BDL$GOLD), sd(BDL$GOLD))
library(nortest)
shapiro.test(GOLD1)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  GOLD1
## W = 0.99876, p-value = 0.7256
hist(GOLD1, col = "gray")

qqnorm(GOLD1, col = "gray")

### 4.2.4Biến WTI

shapiro.test(BDL$WTI)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  BDL$WTI
## W = 0.9838, p-value = 0.6078
ks.test(BDL$WTI, y = "plnorm")
## 
##  Exact one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$WTI
## D = 0.99834, p-value = 6.661e-16
## alternative hypothesis: two-sided
ks.test(BDL$WTI, y = "pexp")
## 
##  Exact one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$WTI
## D = 1, p-value = 6.661e-16
## alternative hypothesis: two-sided
set.seed(1)
WTI1 <- rnorm(1000, mean(BDL$WTI), sd(BDL$WTI))
library(nortest)
shapiro.test(WTI1)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  WTI1
## W = 0.99876, p-value = 0.7256
hist(WTI1, col = "gray")

qqnorm(WTI1, col = "gray")

### 4.2.5Biến CPI

shapiro.test(BDL$CPI)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  BDL$CPI
## W = 0.95693, p-value = 0.03335
ks.test(BDL$CPI, y = "plnorm")
## Warning in ks.test.default(BDL$CPI, y = "plnorm"): ties should not be present
## for the Kolmogorov-Smirnov test
## 
##  Asymptotic one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$CPI
## D = 0.52351, p-value = 1.044e-14
## alternative hypothesis: two-sided
ks.test(BDL$CPI, y = "pexp")
## Warning in ks.test.default(BDL$CPI, y = "pexp"): ties should not be present for
## the Kolmogorov-Smirnov test
## 
##  Asymptotic one-sample Kolmogorov-Smirnov test
## 
## data:  BDL$CPI
## D = 0.38191, p-value = 5.009e-08
## alternative hypothesis: two-sided
set.seed(1)
CPI1 <- rnorm(1000, mean(BDL$CPI), sd(BDL$CPI))
library(nortest)
shapiro.test(CPI1)
## 
##  Shapiro-Wilk normality test
## 
## data:  CPI1
## W = 0.99876, p-value = 0.7256
hist(CPI1, col = "gray")

qqnorm(CPI1, col = "gray")